Kinh tế Việt Nam & Thế giới

Việt Nam liên quan đến việc phục hồi kinh tế toàn cầu

Charlie Price

Tập đoàn Đầu tư Bespoke cho thấy có sự suy giảm trong rủi ro mặc định khoản nợ của chính phủ (1) đã xảy ra trong tháng trước. Điều này nêu bật một thực tế là, đối với một nước nói riêng, đã xảy ra trường hợp ngược lại.

Bảng đầu tiên của Bespoke cho thấy có sự thay đổi so với tháng trước, khi đo bằng giá hoán đổi tín dụng mặc định (2), với Việt Nam, cho thấy trường hợp ngoại lệ.

[Các nước khác giảm rủi ro mặc định kể từ ngày 5-2, trong khi VN thì rủi ro này tăng]

Bảng thứ hai cho thấy giá hợp đồng tín dụng mặc định dựa vào điểm cơ bản:

[Việt Nam cũng đứng gần cuối bảng này, cùng với các nước như Hy Lạp và Iceland. Vậy chuyện gì xảy ra với Việt Nam?]

Nước này đang đối mặt với nhiều vấn đề. Nợ quốc gia dự đoán lên tới 52% tổng sản lượng quốc gia và gần đây họ đã đi đến việc bán trái phiếu bằng đồng đô la. Điều đó cho thấy đơn vị tiền tệ này, đồng, là bán cố định (3) đối với đồng đô la, cần phải được quản lý. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với thâm thủng ngân sách là 9%, mức thâm thủng hiện tại là 10% và liên tục lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trên 28% trong năm 2008, nhưng đã giảm còn 7,3% năm ngoái do sự suy thoái.

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới Việt Nam nhiều như phần còn lại của thế giới. Sau khi tăng trưởng bình quân 7% trong những năm làm ăn có hiệu quả, xuất khẩu giảm gần tới 10% trong năm 2009. Cam kết đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm 70%.

Xuất khẩu yếu và việc đầu tư nước ngoài giảm có nghĩa là tỉ giá trao đổi cố định (4) bị áp lực. Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hạ giá đồng tiền khoảng 5%. Sau đó cuối tháng, ngân hàng trung ương hạ giá thêm một lần nữa 3,3%.

Việc hạ giá này có khả năng giúp xuất khẩu, nhưng nhiều áp lực đặt ra cho chính phủ hơn về tài chính và lạm phát.

Một vấn đề nữa cho người Việt Nam là hiệu suất của chính đồng đô la.

Do tỉ giá trao đổi cố định, những biến động đáng kể của đồng đô la có tác động đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu không phải vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó chiếm 81% tổng số. Sức mạnh của đồng đô la hiện tại phần nào giải thích cho lần hạ giá thứ hai trong thời gian 3 tháng.

[Nhìn vào thời gian] dài hạn hơn, các cơ hội ở Việt Nam trông đầy hứa hẹn. Dân số đông, nông nghiệp, dầu hỏa và chi phí sản xuất thấp, tất cả thêm vào việc thu hút [đầu tư]. Quỹ đầu tư như Market Vectors Việt Nam ( VNM), hoặc quỹ đầu tư VinaCapital Opportunity (VCVOF.PK), cung cấp việc truy cập vào thị trường chứng khoán dễ dàng. Những cổ phiếu này đem lại lợi nhuận từ việc đầu tư. Nếu [thị trường] toàn cầu hồi phục, các cổ phiếu đó rất tốt cho các cơ hội đầu tư.

Hiện tại, các dữ liệu trông có vẻ tốt cho các quỹ đầu tư này. Chỉ số JPMorgan Global All-Industry Output tăng đến 53,6 trong tháng hai, mức cao nhất kể từ tháng 10 năm 2009. Như báo cáo nói:

Chỉ số tiêu đề hiện tại giữ được trên chỉ số trung lập là 50,0 trong bảy tháng liên tiếp, với chỉ số gần đây nhất giữ vững ở mức tăng trưởng hàng năm của GDP toàn cầu là 3-4%

Đó là tin tốt cho Việt Nam. Có nghĩa là sự phục hồi mạnh mẽ trong thị trường xuất khẩu sẽ cho phép họ trả nợ. Vấn đề quan trọng là liệu sự phục hồi có ở lại hay không. Liệu cái đà phục hồi sẽ giữ vững hay là cần thiết để bắt đầu giải quyết thâm thụt, kéo sự phục hồi xuống?

Bất kỳ dấu hiệu nào về sự hồi phục rồi quay đầu đi xuống lần nữa (5) của kinh tế toàn cầu sẽ rất có hại cho Việt Nam. Một sự suy thoái tiếp tục sẽ làm cho họ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu, đau đớn khi phải thanh toán các khoản lãi suất cao và có nhiều khả năng hạ giá tiền tệ thêm nữa.

Việt Nam liên quan rất lớn đến việc phục hồi toàn cầu (nghĩa là: kinh tế toàn cầu phục hồi thì kinh tế VN mới phục hồi, kinh tế toàn cầu tiếp tục suy thoái thì VN tiếp tục bị ảnh hưởng)

Người dịch: Ngọc Mai

Ghi chú:

(1) Sovereign default risk: rủi ro mặc định khoản nợ vay của chính phủ, nghĩa là rủi ro có thể xảy ra do khủng hoảng kinh tế, mà quốc gia đi vay nợ không thể trả nợ, hoặc không trả nợ đúng hạn.

Thường một quốc gia đi vay nợ, nếu không thể trả nợ thì không thuộc thẩm quyền xét xử tại tòa án phá sản, do đó chính phủ có thể không trả nợ mà không bị hậu quả pháp lý. Ví dụ như trường hợp Bắc Triều Tiên, năm 1987 đã không trả nợ theo quy định. Trường hợp như vậy, bên cho vay và chính phủ Bắc Triều Tiên thỏa thuận lại về lãi suất, thời gian cho vay, và số tiền gốc phải thanh toán. Hay như khủng hoảng kinh tế ở Argentina năm 2002, Argentina đã không thể trả số nợ vay $1 tỉ đô la từ Ngân hàng Thế giới. Những rủi ro đó gọi là sovereign default risk.

Nếu rủi ro này giảm, nghĩa là quốc gia đó có nhiều khả năng trả nợ vay. Hình 1 cho thấy, trường hợp VN, rủi ro này không giảm như các nước khác mà gia tăng 4% trong tháng qua.

(2) Credit default swap: hoán đổi tín dụng mặc định, gọi tắt là CDS, như dạng bảo hiểm trên món nợ mà mình cho vay. Đây là hợp đồng mà người mua (thường là người cho vay nợ) trả tiền theo định kỳ cho người bán (hãng bảo hiểm), đổi lại, hãng bảo hiểm sẽ trả khoản nợ mà người mua cho vay, nếu bên vay nợ không trả được. Ví dụ: trường hợp bạn là nhà đầu tư, bạn cho Bắc Triều Tiên vay $1 triệu đô la, bạn đến hãng bảo hiểm AIG mua bảo hiểm trên số nợ $1 triệu đô la mà bạn cho vay. Trường hợp Bắc Triều Tiên không trả hoặc chỉ trả 1 phần trong số tiền $1 triệu đô la đó, thì phần còn lại AIG sẽ trả cho bạn.

CDS price càng cao thì khả năng trả nợ của quốc gia đó càng thấp, do đó số tiền bảo hiểm phải trả trên món nợ cao. Ví dụ như Argentina CDS price = 1.068, nếu bạn cho chính phủ Argentina mượn nợ, bạn phải trả số tiền thật cao để mua bảo hiểm trên món nợ cho vay của mình. Cũng có khả năng không có công ty bảo hiểm nào dám bán nếu họ nghĩ Argentina không thể trả nợ.

(3) The Dong, is semi fixed to the dollar: đồng tiền VN bán cố định so với đồng đô la, đồng VN không hẳn lệ thuộc hoàn toàn vào đồng đô la mà chỉ ảnh hưởng 1 phần thôi. Nghĩa là khi đồng đô la tăng (appreciate) có khả năng làm cho đồng VN tăng, đồng đô la giảm (depreciate) thì đồng VN cũng có thể giảm.

(4) Currency peg = fixed exchange rate: tỉ giá trao đổi cố định. Chính sách kiểm soát giá trị tiền tệ bằng cách nối kết với một loại tiền tệ khác. Đồng đô la thường được sử dụng như là peg currency cho nhiều loại tiền tệ.
(5) Global double dip: kinh tế toàn cầu lên xuống theo chu kỳ, double dip là xuống 2 lần, tức là kinh tế bị suy thoái rồi phục hồi, rồi lại suy thoái lần nữa.

Nguồn: anhbasam

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s